Tuesday, 27 June 2017

HÌNH ẢNH NƯỚC MỸ SUY GIẢM TỪ KHI ÔNG TRUMP CẦM QUYỀN (VnEconomy)




An Huy
15:17 - Thứ Ba, 27/6/2017

Kết quả một cuộc khảo sát vừa được Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố...

Hình ảnh của nước Mỹ đã giảm sút nhiều trên toàn cầu kể từ khi Tổng thống Donald Trump lên cầm quyền, và phần đông người dân được hỏi ở nhiều quốc gia không tin vào khả năng lãnh đạo của ông chủ Nhà Trắng - hãng tin Reuters dẫn kết quả một cuộc khảo sát vừa được Trung tâm Nghiên cứu Pew công bố cho biết.

5 tháng sau khi ông Trump chính thức trở thành người đứng đầu nước Mỹ, cuộc khảo sát thực hiện ở 37 quốc gia cho thấy tỷ lệ đánh giá tích cực về nước Mỹ đã giảm xuống mức 49%, từ mức 64% vào thời điểm cuối nhiệm kỳ kéo dài 8 năm của cựu Tổng thống Barack Obama.

Sự giảm sút trong tỷ lệ người dân có cái nhìn tích cực về Mỹ thậm chí còn diễn ra mạnh hơn ở những nước đồng minh thân cận nhất của Mỹ, bao gồm hai nước láng giềng Mexico và Canada, và các đối tác ở châu Âu như Đức và Tây Ban Nha.

Tổng thống Trump nhậm chức vào ngày 20/1 năm nay với khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”. Kể từ đó, ông đã thúc đẩy kế hoạch xây tường ngăn biên giới Mỹ-Mexico, tuyên bố rút khỏi thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu, đồng thời cáo buộc các quốc gia như Canada, Đức và Trung Quốc có hoạt động thương mại bất bình đẳng với Mỹ.

Trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên trên cương vị Tổng thống vào tháng 6, ông Trump đã nhận được sự chào đón nồng hậu từ Saudi Arabia và Israel, nhưng vấp phải sự hoài nghi của các đối tác châu Âu - những nước mâu thuẫn với ông về vấn đề ngân sách quốc phòng trong khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), khí hậu và thương mại.

Hiện chỉ có 30% người Mexico nói có cái nhìn tích cực về Mỹ, giảm từ mức 66% vào cuối nhiệm kỳ của ông Obama. Ở Canada và Đức, tỷ lệ này cùng giảm 22 điểm phần trăm, còn tương ứng 43% và 35%.

Ở nhiều nước châu Âu, tỷ lệ người được hỏi cho biết có cái nhìn tích cực về Mỹ đã giảm về mức bằng vào thời điểm cuối nhiệm kỳ của cựu Tổng thống George W. Bush, người khởi xướng cuộc chiến tranh gây tranh cãi của Mỹ ở Iraq.

“Sự sụt giảm hình ảnh của nước Mỹ diễn ra trên diện rộng”,
báo cáo của Pew có đoạn viết. “Tỷ lệ người dân có cái nhìn tích cực về Mỹ đã giảm ở nhiều nhóm quốc gia từ Mỹ Latin, Bắc Mỹ, tới châu Âu, châu Á và châu Phi”.

Cuộc khảo sát của Pew được thực hiện với sự tham gia của 40.447 người, trong thời gian từ 16/2-8/5. Kết quả cũng cho thấy người dân các nước thiếu sự tin tưởng vào Tổng thống Trump.

Chỉ 22% số người được khảo sát nói họ tin ông Trump sẽ làm điều đúng đắn trong quan hệ quốc tế, so với tỷ lệ tin tưởng ông Obama là 64%.

Tổng thống Nga Vladimir Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận được tỷ lệ tin tưởng trong cuộc khảo sát của Pew tương ứng lần lượt là 27% và 28%, cao hơn so với ông Trump. Thủ tướng Đức Angela Merkel đạt tỷ lệ tin tưởng 42%, cao nhất trong số 4 nhà lãnh đạo trong cuộc khảo sát này.

Hai quốc gia mà người dân có độ tin tưởng thấp nhất vào ông Trump là Mexico, với 5%, và Tây Ban Nha, với 7%.

Hai quốc gia duy nhất có tỷ lệ tin tưởng vào ông Trump cao hơn so với ông Obama là Nga và Israel. Tại Nga, tỷ lệ người dân tin tưởng vào Tổng thống Trump tăng lên mức 53%, so với mức 11% tin vào ông Obama trước đây. Tại Israel, tỷ lệ này tăng thêm 7 điểm phần trăm, lên 56%.

Trên phạm vi toàn cầu, 75% số người được hỏi cho rằng ông Trump “ngạo mạn”, 65% nói ông “cố chấp”, và 62% nói ông “nguy hiểm”. Ngoài ra, 55% số người được hỏi cho rằng ông là một “nhà lãnh đạo mạnh mẽ”.

Cuộc khảo sát cũng cho thấy sự phản đối trên diện rộng nhằm vào các đề xuất chính sách quan trọng của ông Trump. Trong đó, 76% người được hỏi không ủng hộ kế hoạch xây tường ngăn biên giới với Mexico, 72% phản đối việc ông rút khỏi các thỏa thuận thương mại lớn, và 62% phản đối sắc lệnh của ông về hạn chế nhập cảnh vào Mỹ đối với công dân một số quốc gia có phần đông dân số là người theo đạo Hồi.

Tuy nhiên, cuộc khảo sát cũng cho thấy 58% số người được hỏi có cái nhìn tích cực về người Mỹ nói chung. Tại nhiều khu cực của thế giới, phần đông số người được khảo sát bày tỏ hy vọng nước của họ giữ vững được quan hệ với nước Mỹ dưới thời Trump.

------------------------------------------------------

15:42 - Thứ Ba, 27/6/2017
Liên minh Châu Âu (EU) vừa tuyên bố sẵn sàng trả đũa nếu Mỹ áp thuế quan hoặc hạn ngạch đối với thép nhập khẩu từ châu Âu, theo dự định của Tổng thống Donald Trump về hạn chế nhập khẩu vì lý do an ninh quốc gia.




HIỆP ĐỊNH KHÍ HẬU PARIS CÓ BẤT CÔNG VỚI NƯỚC MỸ KHÔNG ? (Peter Singer - Project Syndicate)




Peter Singer  -   Project Syndicate
Nguyễn Huy Hoàng dịch
Posted on 26/06/2017 by The Observer

Khi thông báo rút Hoa Kỳ khỏi hiệp định khí hậu Paris, Tổng thống Donald Trump đã biện minh cho động thái này bằng cách nói rằng “vấn đề mấu chốt là Hiệp định Paris rất không công bằng, ở mức độ lớn nhất, đối với Hoa Kỳ.” Có phải vậy hay không?

Để đánh giá tuyên bố của Trump, chúng ta cần hiểu rằng khi hỏi các nước nên cắt giảm bao nhiêu lượng phát thải khí nhà kính là chúng ta đang thảo luận về cách phân phối một nguồn tài nguyên có hạn. Điều đó giống như chúng ta thảo luận về cách chia một cái bánh táo khi những người đói khát hơn muốn có miếng bánh lớn hơn số miếng bánh lớn sẵn có.

Đối với biến đổi khí hậu, chiếc bánh này là khả năng hấp thụ khí thải của khí quyển mà không gây ra sự thay đổi thảm khốc đối với khí hậu của hành tinh chúng ta. Những người muốn có miếng bánh lớn là những nước muốn phát thải một lượng lớn khí nhà kính.

Chúng ta đều biết có một cách chia bánh là cho mỗi người một miếng bằng nhau. Đối với khí quyển, điều này có nghĩa là tính toán lượng khí nhà kính mà toàn thế giới có thể thải ra một cách an toàn cho đến một ngày cụ thể nào đó, và chia lượng khí nhà kính đó cho số dân hiện tại trên thế giới. Điều này cho chúng ra biết tỷ lệ bình quân đầu người của khả năng hấp thụ khí nhà kính của khí quyển, cho đến ngày đã định.

Theo tiêu chuẩn này, Hiệp định Paris có bất công với Mỹ hay không? Gần như không. Mỹ hiện chiếm chưa đến 5% dân số nhưng phát thải gần 15% lượng khí nhà kính trên thế giới. Nếu công bằng có nghĩa là miếng bánh của mỗi người nên có kích thước như nhau thì Mỹ mới là nước không công bằng khi lấy một miếng bánh lớn gấp ba lần kích thước đáng có.
Ngược lại, Ấn Độ chiếm 17% dân số và thải ra chưa đến 6% lượng khí nhà kính trên thế giới, vì vậy nước này sẽ được phát thải gần ba lần mức hiện tại. Nhiều nước đang phát triển khác dùng một phần còn nhỏ hơn trong phần khí quyển tính theo đầu người của họ.

Có lẽ cắt ra các miếng bằng nhau không phải là cách chia bánh tốt nhất. Một lập luận phản đối rõ ràng là sự phân chia bình đẳng theo cách này không tính đến số người thực sự cần đến những miếng bánh mà họ tìm đến. Những người tìm đến cái bánh thực sự đói, hay là họ đã ăn uống no nê và chỉ đang tìm cách được chiêu đãi thêm?

Nhưng tính đến nhu cầu thực sự cũng không giúp được gì cho lập luận của Trump rằng nước Mỹ đang bị đối xử bất công trong Hiệp định Paris, bởi lẽ người Mỹ có thể dễ dàng cắt giảm những thứ xa xỉ như các chuyến du lịch nghỉ mát, điều hòa không khí, và lượng tiêu thụ thịt, trong khi các nước kém giàu hơn cần thực hiện công nghiệp hóa để đưa người dân của họ ra khỏi những mức độ nghèo đói không tồn tại ở Mỹ.

Một nguyên tắc công bằng khác sẽ phát sinh nếu chúng ta coi khí thải nhà kính là ô nhiễm, và áp dụng nguyên tắc là bất cứ ai gây ô nhiễm đều phải trả tiền để khắc phục nó. Lý do khiến biến đổi khí hậu trở thành một vấn đề như hiện nay là trong hai thế kỷ qua, một số nước đã phát thải một lượng lớn CO2 và các loại khí nhà kính khác vào khí quyển.

Không nước nào phát thải nhiều khí nhà kính hơn Mỹ trong giai đoạn này. Đó là lý do để yêu cầu Mỹ phải thực hiện những sự cắt giảm sâu hơn so với các nước khác, nhất là khi Mỹ vẫn tiếp tục phát thải khí nhà kính với tỷ lệ đầu người cao hơn nhiều so với các nước phát thải lớn khác, như Trung Quốc và Ấn Độ. Nếu các nước công nghiệp hoá già gây ra vấn đề này thì yêu cầu họ nỗ lực nhiều nhất để khắc phục nó cũng là hợp lý.

Chúng ta cũng có thể xem những đóng góp lịch sử của các nước trong việc gây ra biến đổi khí hậu theo tỷ lệ bình quân đầu người theo thời gian. Các nước khác có thể cho rằng Hoa Kỳ vốn đã sử dụng hết phần khả năng hấp thụ khí nhà kính của khí quyển tính theo bình quân đầu người của mình, và các nước đó cần được phát thải nhiều hơn trong tương lai để ít nhất chúng ta có thể tiến gần hơn tới mức bình quân đầu người bình đẳng theo thời gian. (Các nước khác sẽ không thể sử dụng nhiều như Mỹ và châu Âu đã sử dụng, vì khi đó sự ấm lên toàn cầu sẽ vượt quá 2°C, mức mà theo quan điểm của hầu hết các nhà khoa học là biến đổi khí hậu sẽ trở nên không thể lường trước và có thể rất thảm khốc).

Vì vậy, theo ba nguyên tắc công bằng hợp lý nhất có thể áp dụng đối với biến đổi khí hậu – tỷ lệ chia sẻ bình đẳng, nhu cầu, và trách nhiệm lịch sử – Hoa Kỳ nên cắt giảm mạnh lượng phát thải khí nhà kính của mình. Theo nguyên tắc tỷ lệ bình đẳng, lượng phát thải của Hoa Kỳ không nên vượt quá 1/3 lượng phát thải hiện nay và theo các nguyên tắc khác lượng phát thải đó thậm chí còn nên nhỏ hơn. Thay vào đó, Tổng thống Barack Obama đã cam kết Mỹ đến năm 2015 sẽ cắt giảm chỉ 27% lượng khí thải so với năm 2005. Tuyên bố của Trump rằng hiệp định khí hậu Paris là bất công đối với Hoa Kỳ là vô căn cứ. Trên thực tế, điều ngược lại mới đúng: Mỹ đã tránh được trách nhiệm một cách rất nhẹ nhàng.

Nếu hiện nay Mỹ không đạt được mục tiêu rất khiêm tốn mà nước này tự mình đặt ra ở Paris, và do đó không thực hiện phần trách nhiệm công bằng của mình trong những cắt giảm cần thiết để ổn định khí hậu của hành tinh thì các nước còn lại trên thế giới nên làm gì? Trung Quốc và Liên minh châu Âu đã tỏ ý họ sẽ tuân thủ các cam kết của mình. Nhưng chúng ta không nên đơn giản là cho phép Mỹ ngồi không hưởng lợi từ việc cắt giảm của các nước khác, trong khi vẫn đốt cháy lượng nhiên liệu hóa thạch không giới hạn để cung cấp năng lượng giá rẻ cho các ngành công nghiệp của mình. Thay vào đó, các công dân trên thế giới nên tự tay hành động, và tẩy chay các sản phẩm được chế tạo ở một đất nước rõ ràng là đã từ chối thực hiện phần trách nhiệm của mình để cứu lấy hành tinh.

*
Peter Singer là giáo sư luân lý học sinh vật tại Đại học Princeton và là giáo sư danh dự tại Đại học Melbourne. Các cuốn sách của ông bao gồm Animal LiberationPractical EthicsThe Ethics of What We Eat (đồng tác giả với Jim Mason), Rethinking Life and DeathThe Point of View of the Universe, đồng tác giả với Katarzyna de Lazari-Radek, The Most Good You Can DoFamine, Affluence, and Morality, và gần đây nhất là One World Now và Ethics in the Real World. Năm 2013, ông được Viện Gottlieb Duttweiler vinh danh ở vị trí thứ ba trong danh sách các “nhà tư tưởng đương thời có ảnh hưởng nhất.”

Copyright: Project Syndicate 2017 – Is the Paris Accord Unfair to America?

Nguồn: Peter Singer, “Is the Paris Accord Unfair to America?” Project Syndicate, 05/06/2017.





TỪ FORMOSA, NHÌN LẠI VEDAN (Tiết Trực, Việt Nam)




Tiết Trực (từ Việt Nam)
22/06/2017

Tại sao các tổ chức xã hội dân sự/tôn giáo phải vào cuộc trong vụ ngư dân Nghệ An kiện Formosa?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhắc lại những diễn tiến trong vụ kiện Vedan để đòi bồi thường thiệt hại cho nông dân bị ảnh hưởng vì chất thải của Vedan. Phần thông tin về Vedan trong bài viết này được lấy chủ yếu trong tài liệu Tình huống Vedan (Nghĩa, 2011).

Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam đặt tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai trên diện tích 120 ha theo Giấy phép đầu tư số 171/GP do Uỷ Ban nhà nước và hợp tác đầu tư cấp ngày 08/03/1991. Đây là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với tổng vốn dự án là 432.419.416 USD, số lao động dự kiến 1.800-2.600 người. Công ty Vedan bắt đầu hoạt động từ năm 1993, sản xuất bột ngọt, lysine, tinh bột, nước đường, xút (NaOH), axit (HCL), thức ăn chăn nuôi, phân bón và một số sản phẩm khác. Công ty Vedan sử dụng nước cấp trung bình 20.000-25.000 m3/ngày và nước làm mát lấy từ sông Thị Vải khoảng 40.000 m3/ngày.

Trước năm 1993, khoảng 40% số hộ dân của các xã ven sông huyện Long Thành, Đồng Nai, sống bằng nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Sau khi Vedan hoạt động vào năm 1993 cho tới giữa năm 1994 nhiều xã của huyện Long Thành đã bắt đầu nhận thấy sông Thị Vải bị ô nhiễm, cá chết ngày càng nhiều. Họ đã làm đơn khiếu nại nhiều nơi song yêu cầu của họ không được giải quyết. Do sản lượng thủy sản giảm nhanh, bắt đầu từ tháng 10/1994, nhiều người kinh doanh nghề nuôi trồng thủy sản trên sông Thị Vải thông báo với Chi Cục Thuế huyện Long Thành tạm ngưng kinh doanh, không nộp thuế.

Năm 1995, Vedan đã lâp Báo cáo đánh giá tác động môi trường, được Bộ Khoa học công nghệ và môi trường thẩm định ngày 04/05/1995. Cùng năm này, dưới danh nghĩa hỗ trợ cho ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp, Vedan đã trả cho các hộ dân khoảng 15 tỉ đồng thông qua chính quyền tỉnh Đồng Nai.

Việc gây ô nhiễm sông Thị Vải tiếp tục kéo dài cho đến ngày 08/09/2008, sau ba tháng sử dụng trinh sát cải trang mật phục, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và Đoàn kiểm tra liên ngành bắt quả tang Vedan xả chất thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải qua những đường ống ngầm. Ngày 13/09/2008 đoàn kiểm tra đã lập biên bản hành vi xả nước thải chưa qua xử lý thông qua những đường ống ngầm ra sông Thị Vải. Ước tính Vedan xả 3.500-4.500 m3 chất thải/ngày ra sông Thị Vải qua hệ thống những đường hầm bí mật và tinh vi.

Hành vi xả thải không qua xử lý của Vedan làm thiệt hại đến nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản của hàng ngàn nông dân và ngư dân của ba địa phương sống hai bên bờ sông Thị Vải, cụ thể như sau: Đồng Nai, số hộ bị thiệt hại khoảng 5.600 hộ, tập trung ở hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch; Bà Rịa-Vũng Tàu, khoảng 1.255 hộ; Huyện Cần Giờ, TPHCM, khoảng 839 hộ.

Sau khi vi phạm của Vedan bị phát hiện, từ tháng 11/2008- cuối tháng 12/2009, nông dân các địa phương trên đã làm đơn yêu cầu Vedan bồi thường thiệt hại.

Phản ứng của chính quyền ở ba địa phương liên quan có khác nhau. Tại TPHCM, sau khi xin ý kiến của Thành ủy và UBNDTP để Hội nông dân TP hướng dẫn bà con huyện Cần Giờ đấu tranh với Công ty Vedan, Hội nông dân TPHCM chỉ đạo Hội nông dân Cần Giờ đứng ra làm đầu mối tiếp nhận đơn thư khiếu nại, khiếu kiện của 1.824 hộ dân.

Tại BR-VT, một Ban điều tra xác định thiệt hại về tài nguyên môi trường với sự tham gia của nhiều ban ngành do Phó GĐ Sở NN&PTNT chỉ đạo được thành lập để tiếp nhận các đơn khiếu nại của các nông hộ.

Tại Đồng Nai, việc giải quyết yêu cầu đòi bồi thường của các hộ dân được giao cho một Ban chỉ đạo do đại diện Sở TNMT chịu trách nhiệm thường trực. Trong việc này, UBND Đồng Nai tỏ ra khá lúng túng vì số lượng các hộ dân bị hại lớn, khoảng 5.600 hộ dân, nếu khởi kiện từng hộ phải có chữ ký của chồng và vợ, lúng túng vì chưa chắc chắn về chứng cớ, vùng thiệt hại, vì nông dân nuôi tôm không có hóa đơn, không rõ mật độ, trữ lượng cá trên sông được chứng minh như thế nào. Ngoài ra còn khó khăn vì phải tạm ứng án phí khởi kiện. Nếu tạm tính 2,5% giá trị vụ tranh chấp của riêng nông dân Đồng Nai là 119 tỉ đồng thì nông dân nếu muốn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí là 2.975.000.000 đồng.

Để xác định thiệt hại làm căn cứ đòi bồi thường, dưới sự chỉ đạo thống kê thiệt hại của Bộ TN&MT, ngày 29/01/2010 Viện Môi trường và Tài nguyên (ĐHQG TPHCM) công bố kết quả thẩm tra xác minh thiệt hại của nông dân, theo đó 2.686 ha nuôi trồng thủy sản trên lưu vực sông Thị Vải đã bị ô nhiễm, 90% tác nhân là do Vedan.

Trước tình huống nông dân muốn kiện Vedan mà không biết thực hiện như thế nào, Hội Luật gia tỉnh Đồng Nai đã nhập cuộc. Theo ông Nguyễn Đức, Chủ tịch Hội Luật gia Đồng Nai, cuối tháng 7/2010, Hội Luật gia nhận được sự đồng ý bằng văn bản của UBND Đồng Nai, theo đó bà con nông dân có thể chọn thỏa thuận với Vedan hoặc kiện ra tòa án, nếu kiện ra tòa án thì Hội Luật gia tỉnh Đồng nai có trách nhiệm trợ giúp. Ngày 27/07/2010 Ban Thường vụ Tỉnh hội Luật gia Đồng Nai họp mở rộng, mời tất cả các đảng viên tham dự, kêu gọi trợ giúp miễn phí cho nông dân hai huyện Long Thành và Nhơn Trạch. Hưởng ứng lời kêu gọi, 40 Văn phòng với hàng trăm luật sư đã tình nguyện tham gia hỗ trợ miễn phí cho nông dân Đồng Nai, giúp họ thảo đơn kiện và chuẩn bị hồ sơ vụ kiện, làm đơn giảm án phí, hoàn tất các thủ tục ủy quyền cho luật sư, giúp đỡ vẽ sơ đồ vùng thiệt hại, tìm kiếm chứng cớ giúp nông dân. Cho đến ngày 12/09/2010, gần 5.000 đơn khởi kiện của nông dân Đồng Nai đã được nộp cho tòa án với sự tự nguyện tham gia trợ giúp miễn phí của hàng trăm luật sư và luật gia.

Do nông dân muốn khởi kiện phải tạm ứng án phí cho tòa án nhưng họ lại rất nghèo không có tiền làm việc đó nên Bộ TNMT đã ứng trước 2,6 tỉ đồng từ Quỹ bảo vệ môi trường nộp tạm ứng án phí cho nông dân. Gia đình khó khăn, gia đình chính sách được miễn hoặc giảm án phí. Các tờ báo lớn ở Việt Nam tổ chức hội thảo, kêu gọi hỗ trợ nông dân. Các đoàn đại biểu Quốc hội chất vấn trách nhiệm của chính quyền địa phương và lãnh đạo Bộ TNMT.

Đứng trước phản ứng của dư luận cả nước, Vedan phải xem xét lại đối sách của mình. Trong các năm 2008-2009, Vedan không chấp nhận bồi thường, chỉ ưu tiên đàm phán với chính quyền, chỉ đưa ra cam kết hỗ trợ nông dân. Từ khi Viện Tài nguyên và Môi trường tính ra con số thiệt hại cụ thể, Vedan mới chấp nhận đàm phán về bồi thường thiệt hại với mức độ chấp nhận mức bồi thường nhích dần lên từ từ theo thời gian.

Cuối cùng, trong tháng 8 và 9/2010, Vedan đã phải ký cam kết bồi thường thiệt hại cho nông dân với tổng số tiền là 218,867 tỉ đồng. trong đó 839 hộ nông dân Cần Giờ được bồi thường 45,748 tỉ đồng, 1.255 hộ nông dân BR-VT được bồi thường 53,619 tỉ đồng, và gần 5.000 hộ nông dân Đồng Nai với số tiền 119,5 tỉ đồng [1].

Tóm lại, từ những thông tin về vụ kiện Vedan như trên ta thấy:

·         Để đòi được tiền bồi thường, bên thưa kiện phải đưa ra được các chứng cớ về thiệt hại và tính toán được diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại một cách thuyết phục. Trong trường hợp này vai trò của Viện Môi trường và Tài nguyên (ĐHQG TPHCM) là quan trọng cho vụ kiện.
·         Bản thân nông dân không thể lập được hồ sơ kiện mà phải có sự trợ giúp của nhiều hội đoàn tham gia như Hội nông dân, Hội Luật gia. Các hội này đều do chính quyền thành lập.
·         Chính quyền ủng hộ hoàn toàn cho vụ kiện của nông dân bằng cách chỉ đạo các cơ quan ban ngành có liên quan tham gia trợ giúp từ cấp trung ương đến địa phương, kể cả việc tạm ứng án phí cho nông dân.
·         Luật về trách nhiệm pháp lý (Luật Bảo vệ Môi trường) là cơ sở để đòi bồi thường vì nếu không có luật này thì không khi nào bên bị kiện chấp nhận bồi thường. Thường thì bên bị kiện rất ngại vụ việc dẫn đến tòa án vì nhiều lý do nên họ có thể chấp nhận thương lượng để bồi thường thay vì đưa nhau ra tòa để chấp nhận phán quyết của tòa án.
·         Dù vụ việc được giải quyết thông qua thương lượng nhưng bên đi kiện cũng mất rất nhiều thời giờ, công sức và tiền bạc để chuẩn bị cho vụ kiện. Thời gian từ khi bắt quả tang đến cam kết bồi thường mất hai năm (từ tháng 9/2008-tháng 9/2010).

Từ vụ kiện Vedan, nhìn lại vụ kiện Formosa của ngư dân tỉnh Nghệ An, chúng ta thấy có sự khác biệt gì? Vì sao ngư dân Nghệ An khởi kiện?

Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa được cho là đã gây ra thảm họa môi trường biển cho 4 tỉnh Miền Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế do xả thải qua đường ống ngầm đi ra biển. Hiện tượng cá chết hàng loạt bắt đầu từ ngày 06/04/2016 và kéo dài cho tới nhiều ngày sau gây sự phẫn nộ của cả nước. Để trấn an dư luận, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan như Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Công an, Bộ Khoa học Công nghệ,…điều tra và sau đó công bố nguyên nhân cá chết là do nguồn thải ở khu vực Vũng Áng - Hà Tĩnh chứa keo sắt dưới dạng mixel hấp phụ các chất như Phenol, Xyanua… di chuyển theo dòng hải lưu.

Ngày 30/06/2016 là ngày họp báo của chính phủ công bố nguyên nhân cá chết và thỏa thuận bồi thường 500 triệu USD của Formosa cho các thiệt hại kinh tế và môi trường cho các vùng bị ảnh hưởng ở Miền Trung, sau quá trình chính phủ đàm phán với Formosa với tinh thần “phải đảm bảo quyền lợi của hàng triệu người dân miền Trung nhưng cũng đảm bảo lợi ích các bên, đảm bảo Thỏa thuận về xúc tiến và bảo hộ đầu tư giữa VN và Đài Loan”[2]. Trong buổi họp báo này, để trả lời phóng viên hãng Nikkei: “Số tiền 500 triệu USD là cao, cao nhất trong lịch sử bồi thường ở VN, đã được tính toán như thế nào? Bộ trưởng Trần Hồng Hà cho biết: “Mục đích của chúng tôi đặt ra 500 triệu USD là rất nhỏ. Đây mới là tính sơ bộ thiệt hại người dân, thiệt hại sơ bộ về biển còn những thiệt hại rất nhiều như tổn thương tâm lý, hệ lụy sau này nhưng chúng tôi không cần thiết bao nhiêu mà yêu cầu Formosa chuyển đổi công nghệ và thực hiện nghiêm việc xử lý ô nhiễm môi trường”[3].

Do thông báo của chính phủ chỉ bồi thường cho 4 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế nhưng ảnh hưởng của chất thải Formosa không chỉ giới hạn trong phạm vi 4 tỉnh mà còn lan sang tỉnh giáp ranh Hà Tĩnh là Nghệ An. Một số vùng ở Nghệ An cũng bị thiệt hại do biển không còn cá để đánh bắt nên tàu nằm bờ không ra khơi đánh bắt được làm thiệt hại sinh kế của người dân rất nhiều mà đây lại là sinh kế duy nhất của họ (ví dụ như Giáo xứ Song Ngọc ở Nghệ An). Những ngư dân bị thiệt hại ở Nghệ An đã không được chính phủ kể vào danh sách được bồi thường trong số tiền 500 triệu USD. Chính vì vậy mà họ muốn khởi kiện để thủ phạm Formosa phải bồi thường cho họ. Và những người giúp họ làm đơn kiện là những người tình nguyện hoặc các vị chức sắc tôn giáo đã thể hiện lương tri con người trước nỗi đau của đồng loại, không tỏ ra vô cảm trước bất công xã hội. Nhưng việc kiện của ngư dân Nghệ An bị nhà cầm quyền địa phương cản trở quyết liệt, kể cả sử dụng bạo lực ngăn không cho họ có cơ hội tới tòa án thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh để nộp đơn [4].

Tới đây, so sánh vụ kiện của ngư dân Nghệ An với vụ kiện Vedan, ta thấy có những điểm khác biệt. Đó là:

·         Vụ kiện Formosa không được chính quyền ủng hộ vì chính quyền trung ương đã ký thỏa thuận với Formosa miễn tất cả những trách nhiệm pháp lý của Formosa về bồi thường thiệt hại môi trường sau khi Formosa nhận tội và cam kết trả 500 triệu USD cho chính phủ.

·         Do muốn Formosa nhận trách nhiệm nhanh chóng khi vụ cá chết hàng loạt xảy ra và để giảm nhiệt cơn phẫn nộ của nhân dân sau tuyên bố của ông Chu Xuân Phàm, Giám đốc đối ngoại của công ty Formosa về việc dân Việt Nam phải lựa chọn một trong hai sản phẩm cá hoặc thép nếu không có được cả hai, Chính phủ, vì không muốn mất nhiều thì giờ để điều tra thiệt hại thực tế như trong vụ Vedan, đã sớm thỏa thuận cả gói với Formosa số tiền 500 triệu USD. Số tiền này được nhiều chuyên gia đánh giá là không thấm vào đâu nếu tính đúng tính đủ mức thiệt hại thực sự. Thực ra số tiền 500 triệu USD là quá ít vì chỉ với 4 tỉnh trong danh sách mà theo thông báo của chính phủ mỗi hộ được bồi thường thiệt hại sinh kế chỉ trong thời gian 6 tháng thì thời gian còn lại không có cá biển để đánh bắt thì họ sống bằng gì. Như vậy ta hiểu tại sao chính phủ không muốn đưa thêm Nghệ An vào danh sách được bồi thường.

·         Vì vụ kiện Formosa không được chính phủ ủng hộ như vụ kiện Vedan nên không có cơ quan ban ngành, đoàn thể nào của chính quyền dám tham gia giúp ngư dân Nghệ An chuẩn bị hồ sơ kiện như đã giúp nông dân trong vụ Vedan.

·         Chính vì lẽ đó, những người yêu chuộng công lý, công bằng xã hội bên ngoài bộ máy chính quyên như các tổ chức xã hội dân sự và các chức sắc tôn giáo đã tự nguyện đứng ra giúp đỡ ngư dân Nghệ An làm đơn khởi kiện vì cũng giống như nông dân ven sống Thị Vải, ngư dân là những người chỉ biết lao động kiếm sống chứ không thể biết những thủ tục cần thiết cho một vụ kiện. Để chuẩn bị cho vụ kiện cần phải tốn nhiều nguồn lực cho hồ sơ kiện và tạm ứng án phí nên nếu chỉ bản thân ngư dân thì không có tiền vì đã bị thảm họa môi trường triệt tiêu sinh kế. Vì lẽ đó có những người có lòng từ tâm trong và ngoài nước đã cùng nhau quyên góp tiền để giúp trang trải cho chi phí vụ kiện được dự kiến là rất lớn.

·         Trong vụ kiện Formosa ở Nghệ An, các vị chức sắc tôn giáo đã phải tham gia giúp ngư dân làm hồ sơ khởi kiện vì trong đó có những vùng bị thiệt hại mà ngư dân có đạo chiếm tỉ lệ lớn trong dân số. Các ngư dân này không được cơ quan đoàn thể nào của chính quyền giúp đỡ như vụ Vedan mặc dù thiệt hại có cơ sở chứng minh. Thế thì ngư dân phải trông dựa vào ai để bảo vệ quyền lợi của mình nếu không phải là dựa vào các chức sắc tôn giáo? Trong trường hợp này, các chức sắc tôn giáo ở Giáo phận Vinh đã làm đúng vai trò “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc”, “Công giáo đồng hành cùng dân tộc” vì ngư dân Nghệ An cũng là một thành phần của dân tộc.

Tóm lại, trong vụ kiện Vedan của nông dân Cần Giờ, Bà Rịa-Vũng Tàu và Đồng Nai, chính quyền trung ương đứng về phía bị hại nên nông dân được sự trợ giúp rất nhiều từ các cơ quan ban ngành đoàn thể của chính quyền và đạt được kết quả tương đối tốt. Trong khi đó, trong vụ kiện Formosa của ngư dân Nghệ An, do mối quan hệ “đặc biệt” của chính quyền trung ương và địa phương với Formosa, được thể hiện qua những ưu đãi chưa từng có mà các doanh nghiệp khác không được hưởng và thời gian hoạt động của Formosa được nâng lên 70 năm thay vì bình thường chỉ có 50 năm, và tiền bồi thường cho tất cả mọi thiệt hại và mọi đối tượng đều gói gọn trong số tiền 500 triệu USD, nên khi phát sinh vụ ngư dân Nghệ An kiện Formosa đòi bồi thường thiệt hại thì chính quyền tìm cách dập tắt quyền được kiện chính đáng của người dân theo Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. Và vì chính quyền không bật đèn xanh cho vụ kiện nên không có cơ quan ban ngành đoàn thể nào dám lên tiếng nói ủng hộ ngư dân. Đứng trước viễn cảnh nhiều hộ gia đình ngư dân bị triệt tiêu sinh kế vì Formosa trong khi công ty này lại được chính quyền cam kết bảo vệ công việc làm ăn để bảo vệ lợi nhuận của họ, các tổ chức xã hội dân sự và các chức sắc tôn giáo địa phương đã can đảm lên tiếng trước thảm họa môi trường do Formosa gây ra và đòi hỏi phải có sự công bằng trong xã hội nên đã đứng ra giúp đỡ người dân trong vụ kiện.

Chúng ta biết Việt Nam là nước nghèo nên rất khao khát nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động, đóng góp vào ngân sách nhà nước. Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng mục đích cuối cùng của nhà đầu tư là lợi nhuận. Mà muốn có lợi nhuận thì phải tiết kiệm chi phí. Cho nên tiết kiệm/tránh né chi phí xử lý chất thải cũng là một phương cách giúp nhà đầu tư tăng thêm lợi nhuận. Vì lẽ đó các nước nghèo thường là nơi để các nhà đầu tư nước ngoài xem là địa điểm lý tưởng để kiếm lợi nhuận và đổ chất thải của thế giới.

Nhưng chúng ta cũng lại biết rằng một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải đứng vững trên cả ba chân: kinh tế, xã hội, và môi trường. Vậy thì sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự cũng như của các tổ chức tôn giáo nói chung vào mục tiêu hướng tới công bằng xã hội và bảo vệ môi trường là rất cần thiết để giúp Việt Nam phát triển bền vững cho cả thế hệ hiện tại và các thế hệ tương lai.

*
Tài liệu tham khảo

[1] Tình huống Vedan. Phạm Duy Nghĩa, 2011. Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP04-541-C04V-2012-02-08-17595994.pdf





View My Stats